Cũng
như ở Việt Nam và các nước châu Á, cây tre gắn bó rất lâu đời trong đời
sống người Nhật Bản với những công dụng phổ biến của nó. Trong nghiên
cứu về tre trên thế giới, sự kiện Hiroshima bị ném bom nguyên tử năm
1945 được quan tâm như một biểu hiện đặc trưng về sự chịu đựng của loài
cây này: "Chỉ vài ngày sao trận bom, cả thành phố hầu như bị
san bằng thì người ta đã phát hiện những cây măng mới trong một khu
rừng nhỏ ở đó đã lên xanh!"


Bắt đầu từ truyền thuyết :
Trong
lịch sử Nhật bản, cây tre cũng là chủ đề của các truyện cổ tích, là
biểu hiện của sự may mắn và không thể thiếu trong các lễ hội...
Nàng
công chúa mặt trăng: Người Nhật tin tưởng rằng tre là một loài cây bí
hiểm và độc nhất vô nhị. Nó được coi như một thứ cây thần thánh vì trong
ruột rỗng của cây chính là chỗ ở của thánh thần. Một trong những chuyện
cổ tích lâu đời nhất ở Nhật là Taketori Monogatari (Chuyện kể về người
đốn tre) nói lên niềm tin tưởng đó.


Chuyện
bắt nguồn từ 900 năm trước và nổi tiếng ở Nhật, kể chuyện một công chúa
xinh đẹp từ cung trăng xuống trần giới. Anh thợ đốn tre nghèo đã phát
hiện ra nàng công chúa bé xíu giữa thân tre và đem về nhà mình. Công
chúa lớn lên rất nhanh thành một cô gái xinh đẹp nên có rất nhiều người
đến cầu hôn, nhưng đã đến ngày nàng phải trở về mặt trăng.
Cũng
giống như một cây măng, nàng chỉ cao khoảng chưa đầy một tấc lúc người
đốn tre phát hiện ra và nàng đã cao lớn nhanh chóng chỉ trong vòng ba
tháng. Hầu hết trẻ con Nhật Bản đều biết câu chuyện này dưới cái tên
Kaguya-hime (tức Công chúa ánh trăng) trong các truyện tranh dành cho
trẻ nhỏ.
Cây tre trong lịch sử Nhật Bản:
Từ
rất sớm, cây tre đã đóng một vai trò không thể thiếu trong xã hội Nhật
Bản. Nó mạnh mẽ, thanh thoát, rất dễ uốn và đáp ứng được nhiều nhu cầu
sử dụng trong đời sống hàng ngày. Những chiếc lược, những rổ rá bằng tre
đã được phát hiện vào thời kỳ Jomon ( từ hơn 300 năm trước công nguyên)
tại 2 di chỉ khảo cổ học ở Honshu và Kyushu. Điều này cho thấy loài tre
đã xuất hiện và phát triển rất rộng ở nhiều nơi trên đất Nhật và nó
cũng đã được chế tác thành các vật dụng từ rất lâu. Người ta cũng cho
rằng con người đã dùng măng để ăn vào thời kỳ đó. Qua các thời kỳ, cây
tre đã thể hiện ở rất nhiều hình thái.

Vào
thời kỳ Yayoi (trước công nguyên 300 năm đến 40 năm sau công nguyên)
tre cũng đã được dùng như các công cụ đánh cá như cái bẫy (trap), cái
giần, cái sàn (sieve), rổ, bàn chải... Người ta cũng xác định rằng trong
thời kỳ Nara (710-794), cây tre đã được dùng làm cán bút, nhạc cụ như
sáo trúc Nhật bản (shakuhachi).
Nhiều
bức ảnh chụp lại các hiện vật trưng bày ở Bảo tàng tre Nhật Bản khai
quật ở Nagaoka-kyo - thủ đô của đế chế Nhật từ năm 784 đến 794 thuộc
quận Kyoto, cho thấy từ rất lâu cây tre Madake đã được dùng làm ống dẫn
nước. Chúng được phát hiện ở trạng thái như đã được bảo quản cẩn thận,
dù đã trải qua đã hơn 1.200 năm! Nhưng khi đưa vào trưng bày ở Bảo tàng
thì nó bắt đầu hư hỏng.
Vào
thời kỳ Heian (794-1192), cây tre cũng đã được sử dụng làm rất nhiều
thứ đồ dùng, từ những vật gia dụng hàng ngày cho đến vật trang trí. Thời
kỳ Kamakura và Muromachi ( 192-1573), cây tre cũng được sử dụng chế tạo
vũ khí cho các chiến binh Samurai như cung và mũi tên...



Tre
luôn là những vật liệu thiết yếu trong việc phân biệt kiểu dáng kiến
trúc, Sukiya-zukuri (trường phái kiến trúc nhà ở kết hợp các sắc thái
xây dựng đặc biệt cho nghi lễ uống trà (trà thất) xuất hiện trong thời
kỳ Azuchi- Momoyama (1573-1603) và Edo (1603-1868). Nó không chỉ dùng
làm trụ chống đỡ các tấm phên bằng đất sét mà còn làm vật liệu trang trí
trong các góc tường, chỗ hóng mát, làm rèm che và cả đóng trần nhà. Các
đồ uống trà dùng trong trà thất cũng được chế tác rất tinh xảo bằng
nhiều giống tre khác nhau.
Nước
Nhật đã trải qua một giai đoạn hiện đại hóa nhanh chóng từ sau năm
1854. Tuy vậy, cây tre vẫn là loại vật liệu không thể thiếu, kể cả sau
khi thất bại trong đệ nhị thế chiến. Cây tre, trên thực tế đã được sử
dụng như thứ vật liệu thay thế cho thép trong xây đúc bê tông. Hình ảnh
bê tông tre được sử dụng ở sân vận động Kyoto hiện có trưng bày ở Bảo
tàng tre Nhật bản là một bằng chứng.
(còn tiếp)
Theo Mandy Opera